PHÒNG KHÁM ĐA KHOA

Với 2 phòng riêng biệt cho Siêu âm màu và Siêu âm trắng đen, Phân khoa Siêu âm thực hiện nhanh chóng các dịch vụ siêu âm: Siêu âm tim, Siêu âm mạch máu, Siêu âm tim thai, Siêu âm tổng quát… giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán bệnh....

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Đạo Tưởng xưng Vương “Minh Hoàng Quốc cứu thế” - Kỳ 2

Đạo Tưởng xưng Vương “Minh Hoàng Quốc cứu thế” - Kỳ 2

Đạo Tưởng tên thật là Lâm Văn Quốc (Ba Quốc), quê ở huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Tại vùng đất Giá Rai, vào đầu thế kỷ 20 đã xảy ra một sự kiện gây chấn động cả nước, có ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử đấu tranh giữ đất của những người đi khai hoang, đó là cuộc thảm sát trên cánh đồng Nọc Nạng. Năm 1928, tại đồng Nọc Nạng nổ ra cuộc quyết chiến đẫm máu giữa những người nông dân giữ lúa, giữ đất - anh em ông bà Mười Chúc - chống lại những tên cướp lúa, cướp đất - bọn địa chủ cấu kết với thực dân Pháp, làm chết 17 người.


Nhà nghèo, Lâm Văn Quốc chỉ học đến hết tiểu học. Nhờ lao động từ nhỏ, lớn lên Ba Quốc có thân hình vạm vỡ. Cùng với nhiều trai tráng trong vùng, ông luyện tập võ nghệ để có cơ hội thì đem ra giúp đời. Lớn lên gặp lúc giặp Pháp xâm lược quê hương, bọn cường hào ôm chân Pháp hà hiếp nông dân, trong đó có vụ đồng Nọc Nạng, Ba Quốc bỏ xứ ra đi để thỏa chí bình sanh. Ông thích giao du với các hảo hớn, học võ “Thiếu lâm tự”, ông lưu lạc lên đất Cao Miên, qua Ai Lao, qua cả Xiêm La để học võ, học bùa ngải.


Sau này, khi đã thành Đạo Tưởng, có trong tay cả vạn tín đồ, xưng vương xưng bá ở vùng đất Tân Châu, ông Ba Quốc kể rằng, trong những năm ông “tầm sư học đạo” ở nước ngoài, ông đã gặp những sư phụ võ công thâm hậu, dạy cho ông những phép thần thông vô song. Cụ thể là ở Cao Miên ông học được phép thuật giúp đạn bắn không thủng người, ở Ai Lao ông học được phép thuật dùng cặp mắt thu phục người khác, kéo họ về với ông, ở Xiêm La ông học được tài biết chuyện ngàn năm trước, trăm năm sau...


Sau mấy năm “tầm sư học đạo” ở nước ngoài, Ba Quốc trở lại đất Tân Châu, lãnh cai quản sở ruộng cho gia đình người cậu ruột của mình là ông Nguyễn Chánh Sắt, người có tiếng trong làng văn, làng báo ở Nam kỳ thời bấy giờ. Nguyễn Chánh Sắt là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu nhất Nam bộ hồi đó, có đóng góp đáng kể vào việc nối liền hai bờ văn học cổ điển và văn học hiện đại ở Việt Nam. Người đương thời coi Nguyễn Chánh Sắt là một trong những dịch giả truyện Tàu đặc sắc nhất.


Sống trong không gian truyện Tàu của người cậu ruột Nguyễn Chánh Sắt, cùng với võ công có sẵn trong người, Ba Quốc bắt đầu hành động theo môtíp truyện Tàu. Tương truyền một đêm trời đất âm u, bỗng dưng Lâm Văn Quốc bắt đầu la hét, đấm ngực, đụng đầu vào cột nhà, tự xưng lúc là "ông tướng núi", khi là "ông Lèo" làm náo động cả xóm. Rồi ông bỏ nhà lên núi Thất Sơn tu tịnh như các đạo sĩ, sau đó trở về Tân Châu dựng cái am bằng tre lá bề thế, tọa lạc trên con đường Hương Chùa, cách chợ Tân Châu độ cây số để tu tịnh. Ông cạo đầu, mặc áo màu vàng, chuyên tâm lo việc tụng niệm, dạy võ nghệ, hoặc dùng bùa ngải, ngồi quán tưởng (nên được gọi là Đạo Tưởng) hay "đụng đầu vào cột nhà" để trị bệnh cho dân. Bằng cách ấy, Đạo Tưởng đã phôi thai tại một góc trời miền Tây Nam bộ.


Đạo quân hơn 1 vạn nông dân


Sau gần 10 năm hành đạo, Đạo Tưởng thu phục được trên 1 vạn tín đồ sống rải rác khắp huyện Tân Châu và vùng lân cận. Cách thu phục tín đồ của Đạo Tưởng là đi bốc thuốc trị bệnh cho người dân không lấy tiền. Không biết Đạo Tưởng học nghề thuốc ở đâu, mà chữa bệnh rất tài, nhiều con bệnh khi đến tay ông đã được chữa khỏi. Những người bệnh sau khi khỏe mạnh trở lại phần nhiều trở thành tín đồ của ông. Trong lúc đi chữa bệnh cứu người, Đạo Tưởng tranh thủ khuếch trương thanh thế của mình như là vị cứu nhân độ thế, có tài phép thần thông, được phật trời sai xuống cứu giúp nước Nam thoát khỏi vòng đô hộ của thực dân Pháp. Ông cũng tranh thủ “biểu diễn” một vài điều “thần bí” như là những màn ảo thuật đơn giản mà ngày nay ta có thể dễ dàng giải thích, như biến đổi màu của nước, bình nước đã cạn lại chảy nước trở lại...


Từ miệng của người bệnh được chữa khỏi và gia đình họ, tiếng đồn về Đạo Tưởng ngày càng lan xa, khắp nơi xôn xao về hiện tượng Đạo Tưởng. Ông đi đến đâu cũng được tín đồ tung hô, vái lạy. Cùng với việc chữa bệnh, Đạo Tưởng tổ chức dạy võ cho thanh niên trong làng. Võ của ông pha trộn của các trường phái võ khác nhau, nặng nhất là “võ bùa” Cao Miên. Dần dần, cái sân am hành đạo của ông biến thành sân võ. Một đêm, đệ tử thấy thần oai, ông đụng đầu vào một thân cây, cây lá rung rinh như đương đầu trước ngọn gió. Có lần ông đóng cây đinh ba tấc vào cột nhà, trước mặt hàng ngàn tín đồ đứng vây quanh, ông đụng đầu vào cây đinh, cây đinh quẹo ngang mà đầu ông không hề hấn gì. Đêm đêm, trước cái sân am hành đạo của ông, lá dừa bó thành đuốc nổ lép bép, hàng ngàn tín đồ với sắc phục vàng hươm, kiếm loang loáng trong ánh đuốc đỏ rực dưới trời đêm.


Nhiều tín đồ ở rất xa cũng cùng đến Tân Châu thọ giáo Đạo Tưởng. Một trong những người đó là kỹ sư Nguyễn Thành Nam, người sau này trở thành Đạo Dừa. Kỹ sư Nguyễn Thành Nam khâm phục, nhưng không tán thành giáo lý của Đạo Tưởng, vì vậy ông không ở lại Tân Châu, mà lên núi Thất Sơn để ngồi một chỗ tu tịnh suốt 3 năm, sau đó trở về Bến Tre lập nên Đạo Dừa.


“Minh Hoàng Quốc cứu thế”


Sau gần 10 năm hành đạo, quy tụ được hơn một vạn tín đồ, Đạo Tưởng tự xưng mình là "Minh Hoàng Quốc", lập đàn phong vương và phong cho các em ruột và các môn đệ các chức tước, như "ngự đệ", "quân sư", "nguyên soái", "đô đốc"... Về duyên cớ ông Đạo Tưởng tự phong cho mình là Minh Hoàng Quốc, theo một vài nhà nghiên cứu, có lẽ ông bị ảnh hưởng bởi những pho truyện Tàu mà ông từng nghiền ngẫm trong thời gian trú ngụ tại nhà người cậu ruột là Nguyễn Chánh Sắc.


Trong số những quyển truyện Tàu mà Ba Quốc thích đọc, có cuốn viết về vị vua nhà Đường tên Đường Huyền Tông (685 - 762), thụy hiệu là Đường Minh Hoàng, là vị hoàng đế thứ 6 của nhà Đường ở Trung Quốc, trị vì Trung Quốc từ năm 712 - 756. Thời gian trị vì của ông dài nhất trong các vị hoàng đế nhà Đường và ông được xem là đã mang đến cho nhà Đường đỉnh điểm về văn hóa và quyền lực, trong đó đáng kể nhất và để lại mãi cho hậu thế và những bài thơ Đường.


Đạo Tưởng rất ái mộ Đường Minh Hoàng, cả về tài thao lược quân binh, trị vì thiên hạ, lẫn tài văn chương thơ phú. Kể cả chuyện tình của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi cũng được ông Đạo ngưỡng vọng, như ông đã từng nói với các tín đồ. Ông Đạo Tưởng mơ có ngày mình sẽ trị vì nước Nam giống như Đường Minh Hoàng, mở ra triệu đại mới đưa nước Nam đi lên thịnh vượng... Trong đầu ông đạo sĩ ở một góc trời Tây Nam bộ hiện rõ viễn cảnh: Một vì vua nước Nam tên là Minh Hoàng Quốc sau khi đánh đuổi ngoại xâm, thu phục giang sơn, đã xây dựng nên triều đại mới thịnh vượng, quốc thái dân an; vì vua cũng say mê văn chương, thơ phú, cũng có những mối tình tuyệt đẹp để lại danh tiếng mãi cho hậu thế...


Sau khi đã xưng vương, ổn định quân binh, Đạo Tưởng bắt đầu lên kế hoạch làm đại cuộc, tức dấy binh khởi nghĩa, tiến tới chiếm huyện Tân Châu, rồi tỉnh An Giang, xong kéo “đại quân” về Sài Gòn giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, dựng nên triều đại Minh Hoàng Quốc. Trong một lần thuyết giáo với hàng ngàn tín đồ, Đạo Tưởng đã vạch ra khá chi tiết kế hoạch dấy binh khởi nghĩa của mình, theo đó “đại cuộc” sẽ hoàn tất nội trong năm Kỷ Mão 1939. Đầu năm, ông sẽ dấy binh khỏi nghĩa chiếm huyện Tân Châu, giữa năm sẽ thu phục cả tỉnh An Giang và cuối năm sẽ “thu giang sơn về một mối”.


Hàng vạn tín đồ nghe “minh chủ” thuyết giáo và đưa ra kế hoạch cụ thể, mà lại gần kề, ai cũng phấn chấn, bỏ hết công ăn việc làm để tập võ, rồi đi vận động người thân tham gia Đạo Tưởng để sau này “vinh hoa phú quý”. Trong những ngày cuối năm 1938, đầu năm 1939, không khí ở vùng quê Tân Châu, nơi Đạo Tưởng ảnh hưởng sâu đậm nhất, lúc nào cũng nhộn nhịp, sôi động chuyện luyện tập quân binh, mọi người bàn tán xôn xao chuyện nước Nam sắp có vua mới, người Pháp sắp bị đánh đuổi ra khỏi nước Việt.







via Xã hội | Báo Lao Động Điện Tử

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét